Phòng tắm và khu giặt
Thay tủ gương âm tường: tủ mới có vừa ô tường cũ không?
Kiểm tra riêng kích thước ô chờ, phạm vi che phủ của mặt tủ và chiều sâu thực dùng. Viền che rộng có thể giấu vết sơn cũ, nhưng không giải quyết được việc thân tủ cần ô tường lớn hơn.
Muốn giữ ô tường cũ, cần kiểm tra cả phần âm và phần mặt
Tủ gương âm tường mới chỉ phù hợp với ô cũ khi ô đó đáp ứng yêu cầu lắp đặt, đủ chiều sâu và mặt tủ che được vùng cần che. Mặt gương lớn hơn có thể giấu đường sơn cũ, trong khi thân tủ phía sau vẫn cần một ô rộng hơn. Ngược lại, thân tủ có thể lọt vào tường nhưng mặt tủ lại để lộ cạnh gạch sứt. Vì vậy, không thể quyết định chỉ bằng chiều rộng ghi trong tên sản phẩm.
Trước khi chọn mẫu, hãy xác định phần hoàn thiện nào cần giữ nguyên. Nếu không muốn cắt gạch hoặc mở rộng ô tường, yêu cầu đó sẽ loại những tủ cần ô lớn hơn ngay từ đầu. Viền che quanh mặt tủ, thường gọi là flange, giúp phủ lên mép ô và dấu hoàn thiện cũ. Nó không làm thân tủ nhỏ lại, không tạo thêm chiều sâu trong tường và cũng không chứng minh rằng phía sau có chỗ cố định phù hợp.
Đối chiếu đúng kích thước ô chờ trong tài liệu
Tài liệu Robern R³ cho RC1636D4FP1 / RC1636D4FB1 liệt kê riêng kích thước bên ngoài và ô chờ lắp đặt, tức roughing-in opening. Tài liệu cũng mô tả viền che dùng khi cải tạo để giấu khe hở, đường sơn và khuyết điểm trên tường. Các mục này cho thấy hai việc cần kiểm tra riêng: ô tường có đáp ứng yêu cầu của tủ hay không, và mặt tủ có che kín vùng cũ hay không. Thông số trong tài liệu chỉ áp dụng cho các mẫu được nêu.
Tài liệu tham khảo: Robern R³ flat-door cabinet specification, RC1636D4FP1 / RC1636D4FB1.
Với mẫu định mua, cần có yêu cầu ô chờ, kích thước thân tủ, phần nhô khỏi tường và kích thước mặt sau lắp đặt. Ô chờ do hãng quy định có thể đã tính khoảng dư lắp đặt; đừng tự suy ra bằng cách lấy chiều rộng gương trừ viền. Khi đo hiện trạng, tách mép gạch nhìn thấy khỏi ô thực dùng phía sau. Mép gạch thẳng không cho biết bên trong có vật cản, đủ chiều sâu hay có kết cấu để bắt giữ tủ.
Phương án A che được mặt ngoài nhưng vẫn phải loại
Xét một ví dụ hoàn toàn giả định: ô hiện hữu thực dùng rộng 18 inches, cao 30 inches và sâu 4 inches. Tủ A có mặt 20 × 32 inches, nhưng tài liệu của nó yêu cầu ô 19 × 31 × 4 inches. Dù mặt tủ đủ lớn để phủ qua ô cũ, ô hiện hữu vẫn thiếu tổng cộng 1 inch về chiều rộng và 1 inch về chiều cao so với yêu cầu. Chiều sâu bằng nhau không bù được hai kích thước còn thiếu.
Trong ví dụ này, chủ nhà muốn giữ gạch xung quanh và đã loại việc mở rộng ô khỏi phạm vi công việc, nên bỏ A khỏi danh sách. Gọi viền của tủ là loại dành cho cải tạo không giải quyết được xung đột kích thước. Cũng không nên mua rồi trông chờ thợ cắt sửa thân tủ. Hình minh họa phân biệt mặt tủ, ô tường và thân tủ; hình không thể hiện tỷ lệ hay kích thước của A hoặc B, và không chứng minh tủ nào lắp vừa.
Phương án B: vừa ô rồi mới tính phần che dấu cũ
Tiếp tục ví dụ giả định, tủ B cũng có mặt 20 × 32 inches nhưng yêu cầu ô 18 × 30 × 4 inches, trùng với ô hiện hữu. Các dấu hoàn thiện cũ nằm trong hình chữ nhật 19 × 31 inches, đồng tâm với mặt tủ dự kiến. Theo chiều ngang, (20 − 19) ÷ 2 = 0,5 inch mỗi bên; theo chiều dọc, (32 − 31) ÷ 2 = 0,5 inch phía trên và dưới. Mặt tủ vì thế vượt ra ngoài vùng dấu cũ 0,5 inch ở mỗi cạnh.
Kết quả 0,5 inch chỉ mô tả mức che phủ trong ví dụ, không phải mức chồng mép được khuyến nghị hay khoảng dư để cố định tủ. Phép tính còn phụ thuộc vào giả định đồng tâm. Nếu ô tường hoặc tủ cũ lệch sang một phía, cùng kích thước mặt ấy vẫn có thể để lộ dấu ở phía còn lại. Hãy đặt đường bao ô, vùng hư hỏng và mặt tủ mới trên cùng bản vẽ mặt đứng, lấy chậu rửa cùng một mốc cố định trên tường để đối chiếu.
Kiểm tra từng góc và từng vết sứt nhô ra ngoài đường bao, thay vì coi dấu cũ là hình chữ nhật hoàn hảo. Cần biết mặt tủ sẽ nằm ở đâu khi thân tủ được đặt đúng vị trí lắp; không thể mặc nhiên dịch mặt gương riêng để che một vết hỏng. Nếu muốn đổi vị trí cả tủ, phải đối chiếu lại ô chờ và quan hệ với chậu rửa. Nhờ vậy, phép tính che phủ gắn với vị trí thực tế.
Chốt lựa chọn sau khi kiểm tra cách lắp và sử dụng
Để hoàn tất quyết định giả định, giả sử việc kiểm tra tường xác nhận chiều sâu thực dùng và kết cấu đỡ phù hợp với B. Cánh tủ mở không vướng vòi đã chọn, người dùng soi được từ vị trí đứng rửa mặt, và các kệ chứa được đồ thường dùng mà không phải tận dụng khoảng sau bản lề. Đây là những kiểm tra riêng: kích thước ngoài hoặc ô chờ trùng khớp không cho biết khoảng trống bên trong hay toàn bộ đường đi của cánh.
Với các giả định đó, chọn B giúp giữ nguyên gạch vì ô chờ, phần che phủ và vị trí sử dụng đều phù hợp. A có mặt ngoài cùng kích thước nhưng đòi hỏi công việc mở rộng tường đã bị loại. Trước khi đặt hàng, gửi nhà cung cấp đúng mã và biến thể định mua cùng số đo ô hiện hữu; ghi nhận kết quả kiểm tra tường và cách cố định trong phạm vi lắp đặt. Ví dụ này không phải thông số sản phẩm Robern hay hàng có sẵn tại usaKT.com.
Cuối cùng, đối chiếu phiên bản bản vẽ đang áp dụng với đúng biến thể đặt mua. Nếu chuyển sang lắp nổi, hãy đánh giá cả bộ lắp mới, gồm phụ kiện cạnh và phần nhô trên chậu. Riêng tài liệu Robern được dẫn có liệt kê bộ cạnh gương bắt buộc cho lắp nổi; không suy rộng yêu cầu đó sang mọi tủ. Viền che chỉ giải quyết được dấu hoàn thiện khi thân tủ phía sau đã đáp ứng yêu cầu của tường và cách lắp.
Màu mặt tủ để tham khảo
Tài liệu tham khảo
- Robern R³ flat-door cabinet specification, RC1636D4FP1 / RC1636D4FB1

