Bố trí bếp và cất đồ

Nên chọn bếp có bàn chiên cố định hay tấm chiên tháo rời?

Bàn chiên cố định phù hợp khi dùng thường xuyên và các vị trí còn lại vẫn đủ cho nồi chảo hằng ngày. Tấm chiên tháo rời tương thích cho phép đổi cách sử dụng mặt bếp, nhưng cần tính cả việc vệ sinh, di chuyển và cất giữ.

Chọn theo bữa ăn thường ngày

Hãy chọn bàn chiên cố định nếu gia đình thường xuyên dùng mặt chiên phẳng và phần bếp còn lại vẫn đủ chỗ cho nồi chảo. Nếu chỉ thỉnh thoảng dùng, tấm chiên tháo rời tương thích có thể giúp đổi công năng vị trí đó, với điều kiện bạn chấp nhận việc lấy ra, vệ sinh và cất đi. Bàn chiên, thường gọi là griddle, là mặt phẳng để chiên hoặc áp chảo. Quyết định này phân bổ diện tích nấu ăn lâu dài, nên cần dựa vào thói quen thực tế.

Đừng chỉ đánh giá qua buổi trình diễn làm bữa sáng. Hãy thử xếp nồi chảo nguội, rỗng dùng cho một bữa tối quen thuộc lên thiết bị đang cân nhắc, tính cả cán chảo và đường với tới nút điều khiển. Với bàn chiên cố định, chỉ tính những vị trí đặt nồi thực sự còn lại. Nếu phải chọn bếp lớn hơn để đủ chỗ, cần sửa cả phương án dãy tủ và mặt bàn sơ chế bên cạnh. Thử bố trí giúp đánh giá không gian; nó không chứng minh độ nóng đều hay hiệu suất nấu.

Xác định cấu hình cố định trước khi đặt mua

Tài liệu Wolf cho biết bàn chiên trên các cấu hình range và rangetop được đề cập không tháo ra trong sử dụng thông thường; thay thế cần dịch vụ kỹ thuật. Range là bếp liền lò, còn rangetop là cụm bếp nấu lắp vào dãy tủ. Tài liệu cũng nêu rằng các cấu hình đầu đốt, bàn chiên, vỉ nướng và mặt nấu French top không thể hoán đổi. Vì vậy, với thiết bị thuộc phạm vi này, không nên mua bàn chiên với dự tính sau này đổi thành đầu đốt.

Tài liệu tham khảo: Wolf: griddle replacement and fixed cooking-surface configuration.

Nắp che, nếu được quy định cho thiết bị, cũng không tạo thêm vị trí đầu đốt. Một mặt bếp nhìn như chia thành nhiều khối chưa chắc cho phép thay từng khối. Hệ thống gồm các mô-đun nấu độc lập là cách bố trí sản phẩm khác, cần tài liệu riêng. Trong sơ đồ, A là khu chiên cố định cạnh B, phần đặt nồi còn lại; C là tấm tháo rời tại vị trí tương thích và D là chỗ cất khi đã nguội, sẵn sàng cất giữ. Mũi tên biểu thị việc dành chỗ cất, không hướng dẫn di chuyển tấm nóng.

Sơ đồ khái niệm: A là khu chiên cố định cạnh B, các vị trí đặt nồi còn lại. C là tấm chiên tháo rời tại vị trí tương thích; D là chỗ cất riêng khi tấm đã nguội và sẵn sàng cất giữ.
Ví dụ minh họa A: khu chiên cố định; B: các vị trí đặt nồi còn lại; C: tấm chiên tháo rời tại vị trí được hỗ trợ; D: chỗ cất khi đã nguội và sẵn sàng cất giữ. Mũi tên chỉ việc bố trí chỗ cất, không chỉ thao tác với phụ kiện nóng. Sơ đồ khái niệm không xác định số đầu đốt, kích thước hay cặp sản phẩm tương thích.

Tấm tháo rời vẫn phải dùng đúng vị trí

Tài liệu GE về phụ kiện hai mặt JXGRILL2 giới hạn việc sử dụng ở các mẫu bếp được chỉ định và tại đầu đốt giữa, thay cho kiềng giữa nếu có. Tài liệu cũng nêu JXGRILL1 và JXGRILL2 không dùng thay thế cho nhau. Điều này cho thấy kích thước có vẻ vừa và mã phụ kiện gần giống đều chưa đủ để kết luận tương thích. Không thể lấy ví dụ GE để suy ra phụ kiện đó dùng được trên cấu hình Wolf.

Tài liệu tham khảo: GE Appliances: JXGRILL2 reversible griddle and specified center-burner placement.

Trong phương án mua, ghi rõ cặp thiết bị–phụ kiện được hỗ trợ và thể hiện hai trạng thái: nấu bằng nồi chảo khi tấm chiên đã cất, và nấu trên tấm chiên khi đặt đúng chỗ. Cùng một vùng không thể được tính đồng thời cho cả hai công việc. Nếu phải nhấc kiềng ra, cần bố trí cả chỗ để kiềng. Chảo chiên phẳng thông thường cũng có yêu cầu sử dụng riêng; hình dạng của nó không cho phép tự ý bắc qua các vùng nấu.

Tính đường vệ sinh và chỗ cất thật

Với bàn chiên cố định, cần xem cách tiếp cận mặt chiên và bộ phận thu mỡ của đúng thiết bị, thay vì mặc định nhấc cả tấm kim loại ra rửa. Với loại tháo rời, đối chiếu toàn bộ phụ kiện với chậu rửa và cách vệ sinh được phép, tính cả tay cầm, trọng lượng và khả năng cầm nắm. Có thể tháo rời không đồng nghĩa dùng được máy rửa chén. Mọi lần thử mang, đặt hoặc cất phụ kiện nên thực hiện khi phụ kiện đã nguội.

Chỗ cất cần được kiểm tra bằng lòng tủ và lối đưa phụ kiện vào thực tế. Kích thước ngoài của tủ không cho biết khoảng trống hữu dụng bên trong. Một khe nhìn vừa vẫn có thể thiếu chỗ luồn tay; ngăn cao có thể bất tiện với tấm dài, nặng. Hãy chọn cách đặt có đỡ phù hợp, giữ được chỗ cho nồi chảo thường dùng và dành chỗ riêng cho kiềng nếu cần. Mặt bàn sơ chế hoặc khoang thiết bị không nên được mặc nhiên tính là chỗ cất.

Ví dụ lựa chọn: giữ chỗ cho chảo lớn và bàn sơ chế

Giả sử một gia đình thích bàn chiên cố định sau buổi trình diễn bữa sáng, nhưng bữa tối thường dùng chảo rộng cùng các nồi nhỏ. Khi thử cấu hình dự định mua, bộ nồi chảo đó không bố trí thuận tiện ở những vị trí được phép còn lại. Gia đình cũng không muốn tăng diện tích thiết bị vì sẽ mất một đoạn mặt bàn sơ chế. Những điều kiện này khiến cấu hình ban đầu chưa phù hợp, dù bàn chiên vẫn hấp dẫn.

Họ so sánh một cấu hình thiết bị khác có tấm chiên tháo rời tương thích. Khi cất tấm chiên, bộ nồi chảo hằng ngày dùng được thuận tiện. Vào những bữa ít thường xuyên cần mặt chiên phẳng, họ chấp nhận thay đổi cách bố trí nồi. Thử cất phụ kiện nguội cùng kiềng được nhấc ra cho thấy tủ dưới dễ với tới có chỗ phù hợp, không lấn vị trí nồi chảo thường dùng. Sau khi chấp nhận cả việc vệ sinh và mang cất, họ chọn phương án tháo rời để giữ mặt bàn sơ chế. Nếu tủ không chứa được, phương án này vẫn chưa giải quyết xong vấn đề.

Chốt phương án thiết bị cùng phương án tủ

Một gia đình dùng mặt chiên phẳng thường xuyên và vẫn đủ vị trí đặt nồi có thể chọn bàn chiên cố định hợp lý hơn. Họ tránh được công việc đổi phụ kiện và tìm chỗ cất, đồng thời chấp nhận phần diện tích dành cố định và việc chăm sóc nó. Diện tích bếp lớn hay nhỏ tự nó không quyết định lựa chọn; điều cần xét là cả bữa ăn thường ngày lẫn bữa dùng bàn chiên có bố trí thuận tiện hay không.

Trước khi đặt mua, người mua và bên lập phương án tủ nên thống nhất thiết bị, phụ kiện tương thích, hai trạng thái sử dụng và vị trí cất từng bộ phận rời. So sánh tổng chi phí thiết bị, phụ kiện, thay đổi tủ và lắp đặt, kể cả việc xem xét thông gió cho phương án cụ thể. Không suy ra một yêu cầu thông gió chung chỉ từ loại bàn chiên. Khi cả chỗ nấu, chỗ sơ chế và chỗ cất đã rõ, quyết định mua mới phản ánh đầy đủ cách gia đình sẽ dùng bếp.

Màu mặt tủ để tham khảo

Trắng tinh
Trắng kem
Xám ấm nhạt
Xám
Xanh navy
Đen
Màu gỗ sồi
Màu gỗ óc chó đậm
Hình thiết kế tham khảo Các màu dưới đây dùng để so sánh ý tưởng thiết kế, không phải danh sách màu đang có thể đặt mua. Màn hình và ánh sáng làm màu thay đổi; hãy so với mẫu thực tế của dòng tủ bạn chọn.
Xem các màu mặt tủ →

Tài liệu tham khảo

  • Wolf: griddle replacement and fixed cooking-surface configuration
  • GE Appliances: JXGRILL2 reversible griddle and specified center-burner placement

Bộ sưu tập

Tìm không gian của bạn.

Không gian bếp

Phòng tắm