Bố trí bếp và cất đồ
Tủ góc chéo: kiểm tra cửa mở và khả năng lấy đồ
Muốn biết tủ góc mặt chéo có phù hợp, hãy thử đưa đồ qua cửa, xoay vào chỗ cất rồi lấy ra khi các đồ khác vẫn ở trong tủ. Độ rộng mặt chéo và diện tích lòng tủ chưa đủ để kết luận.
Thử cả hành trình của món đồ trước khi chọn tủ
Tủ góc mặt chéo có dễ sử dụng hay không phụ thuộc vào việc bạn có thể đưa đồ đến chỗ cất rồi lấy ra từ vị trí đứng thực tế. Hãy kiểm tra từng món quan trọng khi các đồ dùng xung quanh vẫn ở vị trí thường ngày. Mặt tủ đặt chéo có thể mở ra một khoang rộng, nhưng diện tích nhìn thấy không cho biết món đồ có lọt cửa, xoay được và nằm trong tầm nắm hay không.
Khi mua tủ cho nhà mình hoặc duyệt phương án với bên cung cấp, hãy bắt đầu bằng nhóm đồ dự định cất: nồi lớn, tô phục vụ hay vật dụng ít dùng. Chọn món cồng kềnh hoặc khó cầm nhất để thử trước. Một món nằm vừa ở góc sau vẫn có thể không đi tới được vị trí đó. Vì vậy, bản vẽ cần thể hiện cả đường di chuyển, thay vì chỉ đặt hình món đồ vào phần diện tích còn trống.
Xác định khoảng cửa thực sự sử dụng được
Khoảng mở thông thủy là phần cửa trống mà đồ vật thực sự đi qua khi cánh cửa đã mở đến vị trí cần dùng. Với mẫu tủ đang xem xét, cần tính đến khung mặt tủ, bản lề, cánh cửa và mép đợt kệ có thể vướng đường đi. Chiều dài mặt chéo trên bản vẽ không tự động bằng khoảng mở này. Vùng giữa cửa rộng vẫn chưa bảo đảm quai nồi tránh được bản lề hoặc tay nắm ở bên cạnh.
Kiểm tra cả chỗ đứng ngoài tủ. Cánh cửa mở có thể khiến một bên mặt chéo dễ tiếp cận hơn bên kia. Khi thử, giữ nguyên ảnh hưởng của tủ bên cạnh và mặt bàn bếp; đứng ở nơi người dùng thực sự có thể đứng. Nếu phải nghiêng người hoặc đổi bên mới cầm được đồ, ghi lại thao tác đó. Không dùng góc nhìn từ một vị trí vốn nằm trong diện tích chiếm chỗ của tủ để đánh giá khả năng với tới phía sau.
- A
- A: Cần kiểm tra riêng khoảng mở thông thủy của cửa mặt chéo.
- B
- B: Vị trí cất phía sau cần có đường lấy đồ ra hoàn chỉnh.
- C
- C: Đồ cất bên hông có thể làm thay đổi khoảng trống để xoay vật dụng.
- D
- D: Cánh cửa mở ảnh hưởng đến hướng người dùng tiếp cận tủ.
Qua được cửa rồi vẫn cần chỗ xoay
Dùng kích thước bao ngoài của món đồ, gồm cả quai và những bộ phận thường được cất cùng. Trước hết, xác định hướng đưa qua cửa; sau đó thử động tác cần thiết để đặt vào chỗ. Một chiếc nồi có thể lọt khi đưa nghiêng nhưng cần khoảng trống rộng hơn để xoay trở lại. Trong lúc thử, giữ các đồ bên cạnh và đợt kệ phía trên ở đúng vị trí, vì chúng giới hạn chuyển động dù đáy tủ còn nhiều diện tích.
Thử lấy ra ngay sau khi đặt vào, với cách sắp xếp đầy đủ. Đưa một món vào tủ trống chưa chứng minh được rằng có thể lấy món ấy ra khi tủ đã chứa đồ. Nếu phải nghiêng hoặc xoay, người dùng cần duy trì được điểm cầm trong suốt chuyển động. Khi phải buông tay ở nơi khó nắm lại, hoặc động tác bị chặn giữa chừng, hãy ghi nhận đường đi chưa giải quyết được; khoảng trống ở chỗ khác không tự khắc khắc phục điểm vướng.
Phân khu phía trước, bên hông và góc sau
Đánh dấu rõ nhóm nào gần cửa, nhóm nào ở hai bên và nhóm nào ở sâu phía sau. Sau đó thử lấy từng nhóm từ vị trí đứng đã xác định. Cửa ở giữa mặt chéo không có nghĩa mọi khu vực đều dễ tiếp cận như nhau: bạn có thể nhìn thấy một món nhưng không đưa tay tới quai để nắm thuận tiện. Nếu cần dời nhóm phía trước, xác định luôn chỗ đặt tạm và cách đưa nhóm đó trở lại.
Nếu phương án có mâm xoay, kệ kéo hoặc bộ chia khoang, đánh giá theo mặt kệ và hành trình chuyển động thực tế của bộ phận đó. Cơ cấu di động thay đổi cách đưa đồ ra cửa, đồng thời chiếm một phần không gian. Cần thử khi đã xếp các món dự định cất để kiểm tra chúng có vướng nhau trong quá trình vận hành hay không. Kết quả với tay trong khoang trống không thể thay cho việc kiểm tra một cơ cấu có đường chuyển động khác.
Ví dụ giả định: nồi có quai nằm sau nhóm tô
Giả sử một chiếc nồi rộng có quai hai bên lọt cửa khi đưa chéo. Nồi được bố trí ở phía sau một nhóm tô phục vụ, và khu vực đó đủ rộng để đặt nồi xuống. Tuy nhiên, sau khi qua cửa, nồi phải xoay mới vào đúng chỗ; nhóm tô lại chiếm khoảng xoay ấy. Với giả định cả hai nhóm đều cần được cất trong tủ, phương án này chưa đạt: chỗ đặt cuối cùng đủ rộng, nhưng hành trình đến đó bị chặn.
So sánh ba hướng xử lý: thử hướng đưa nồi khác, đổi vị trí nhóm tô, hoặc chuyển nồi đến chỗ dễ lấy hơn. Mỗi phương án phải giữ chỗ cất cho cả hai nhóm. Chọn cách nào hoàn thành được lượt cất và lấy với ít thao tác dời đồ phù hợp nhất với nhu cầu sử dụng. Nếu buộc phải lấy tô ra trước, thử cả chỗ đặt tạm, lấy nồi và xếp tô lại. Gọi nồi là đồ ít dùng chỉ làm giảm số lần thực hiện chuỗi thao tác này.
Lưu sơ đồ lấy đồ để chốt phương án
Trước khi chốt tủ, lưu khoảng cửa sử dụng được, vị trí cánh cửa mở, hướng của các món lớn và khu vực cất từng nhóm. Ghi thêm món nào phải dời tạm, đặt ở đâu và người sử dụng nào đã hoàn thành được thao tác. Hồ sơ này giúp gia chủ và bên cung cấp cùng đánh giá một cách bố trí cụ thể. Nhận xét chung như “lòng tủ rộng” không thể hiện những điều kiện cần để lấy đồ.
Kiểm tra lại khi đổi bộ phụ kiện, chiều cao đợt kệ hoặc món đồ quan trọng. Những thay đổi đó có thể làm mất khoảng xoay hoặc điểm cầm từng sử dụng được. Bước tiếp theo là đối chiếu cấu tạo của mẫu tủ dự kiến với vật dụng thực tế và thực hiện trọn lượt đưa vào, lấy ra, cất lại. Chỉ chốt cách phân khu sau khi đường đi của các món đại diện đã được làm rõ trong bố trí có đủ đồ.

